Thứ Ba, ngày 07 tháng 8 năm 2012

Thánh Đa Minh - Nhà Giảng Thuyết



Mặc dầu là tổ phụ của một Dòng chuyên việc giảng thuyết, Thánh Đa Minh khoâng phải là nhà Thuyết Giáo bẩm sinh. Ngài đã phải nỗ lực nhiều để trở thành nhà Thuyết Giáo. Nếu Đức Giêsu có 30 năm ẩn dật ở Nagiarét, thì Đa Minh khởi sự giảng thuyết khi đã 35 tuổi, sau một tiến trình dài chuẩn bị có định hướng trong học hành và cầu nguyện. Tiếp theo đó là 10 năm du thuyết theo sự thúc đẩy của Thánh Thần. Cha Đa Minh đã hình thành những kinh nghiệm sâu sắc để truyền thụ cho môn sinh mình trong sáu năm cuối đời. Xin mở lại những trang sử, để theo dõi những chặng đường tâm linh của Ngài, khởi từ chiếc nôi gia đình.
Thánh Đa Minh sinh ngày 24-6-1170 tại Caleruega thuộc giáo phận Osma, miền Castille, nước Tây Ban Nha. Thân phụ ngài là bá tước Felix de Guzman, thân mẫu là chân phước Gioanna de Aza. Ba anh em trai đều thụ phong linh mục, người anh cả Antôniô làm tuyên úy bệnh viện, còn anh thứ Mannes, sau vào Dòng Thuyết Giáo của em mình.
Ngay từ khi chào đời và trong suốt thời thơ ấu, Đa Minh đã được sống trong bầu khí thuận lợi cho sứ vụ trong tương lai. Tuy thuộc gia đình quí tộc, mọi người đã đón chờ và nuôi dưỡng cậu để trở thành giáo sĩ chứ không phải hiệp sĩ. Trước khi sinh, bà Gioanna mơ thấy từ lòng mình có con chó nhảy ra, cắn bó đuốc chạy khắp địa cầu. Giấc mộng đó chứng tỏ bà ước mong con trai mình trở thành nhà thuyết giáo. Ước vọng tốt đẹp được diễn ra trong mộng bằng biểu tượng phổ biến đương thời : vì hình ảnh "con chó ngậm bó đuốc sáng rực" biểu hiệu nhà thuyết giáo, hỗ trợ vị mục tử Giêsu, canh chừng cho đoàn chiên khỏi sói rừng, đã từng xuất hiện trong tiểu sử thánh Benađô (1090-1153) cũng như nhiều bản văn thời Trung Cổ. Tóm lại, Đa Minh từ bé đã được đào tạo để phục vụ Thiên Chúa.
Như thế, những câu chuyện hấp dẫn thời thơ ấu của Đa Minh, có lẽ chính là bài học của người thân muốn truyền thụ cho cậu hoài bão lớn lao ấy. Ngôi sao trên trán là lời nhắc nhủ sống thánh thiện cao vời, những sự kiện đơn sơ như nằm đất được dùng để nói đến hy sinh. Rồi khi Đa Minh bảy tuổi, gia đình đã gửi đến cậu ruột là linh mục xứ Gumiel gần đó. Constantin d'Ovieto so sánh sự kiện này như tiên tri Samuel được gửi đến thày cả Hêli trong Cựu Ước. Bảy năm sau, Đa Minh được theo học tại trường nhà thờ chính tòa Palencia . Nơi đây, Đa Minh không màng đến văn chương nghệ thuật, chỉ miệt mài học hỏi Lời Chúa. Đến độ "nhiều đêm gần như không ngủ để học hỏi Kinh Thánh".
Sau này Kinh Thánh vốn là nguồn suy niệm không bao giờ cạn của thánh Đa Minh. Hành trang ngài luôn mang theo là Phúc Âm thánh Matthêu và các thư thánh Phaolô. Trên đường đi thuyết giáo, mỗi tối ngài đưa các bạn đồng hành vào nơi thanh vắng, cùng nhau đọc một vài đoạn Sách Thánh và chia sẻ cho nhau những gì mình suy niệm. Còn giờ đây ở Palencia , Đa Minh đang nghiền gẫm và khám phá Đức Kitô cũng như giáo huấn của Ngài.
Nhiều nhà sử học gần đây thường coi kinh nghiệm giác ngộ, đổi đời, hay hoán cải của Đa Minh đã diễn ra trong biến cố bán sách giúp người nghèo. Nạn đói đang hoành hành ở Palencia , cũng như khắp Tây Ban Nha, trở thành lời kêu gọi phải hành động. Những năm gắn bó với Kinh Thánh đã sinh hoa kết trái. Từ một người nghiên cứu Kinh Thánh, cậu sinh viên Đa Minh trở thành người sống triệt để Tin Mừng.
Vì đối với một sinh viên trẻ, bộ Tin Mừng và phần chú giải mà mình đã bỏ bao nhiêu thời gian để nắn nót ghi chép là cả một gia tài vô giá không thể lìa xa. Thế mà, chàng sinh viên Đa Minh đã đem bán gia tài ấy cùng với những vật dụng khác để có tiền giúp người nghèo. Anh nói : "Tôi không thể học trên trên những miếng da chết đang khi người khác chết đói". Như thế Tin Mừng đối với Đa Minh không còn là những hàng chữ chết nữa, mà đã trở thành Lời ban sự sống. Thánh Jordano nhấn mạnh quyết định bán sách của Đa Minh được thực hiện nhanh chóng, ngay lập tức, vì muốn thực hiện Lời Chúa : "Ai muốn nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, bố thí cho người nghèo, đoạn hãy theo Tôi" (Mt.19,21). Chúa lên tiếng gọi và Đa Minh đã đáp trả vững vàng.
Sau khi hoàn tất chương trình học, Đa Minh theo lời mời của linh mục Diego, gia nhập hội kinh sĩ địa phận Osma. Ít lâu sau, anh thụ phong linh mục và làm phó bề trên kinh sĩ đoàn.
Gia nhập kinh sĩ đoàn trong thời vàng son này, cha Đa Minh đã học được kinh nghiệm sống chung theo tinh thần Giáo Hội tiên khởi (Cv.4,32). Theo tu luật Augustino, các kinh sĩ sống hòa hợp "một trái tim một tâm hồn", để tài sản làm của chung, đề cao kinh nguyên chung, việc học hành và chia nhau đi rao giảng, giúp đỡ người bất hạnh. Tại Osma, cha Đa Minh nổi bật về lòng khiêm tốn, trở nên người rốt hết trong cộng đoàn. Sau này, điều đầu tiên ngài căn dặn về việc huấn luyện tập sinh, là sống khiêm tốn trong lòng cũng như bên ngoài. Ngoài ra thánh Jordano còn ghi nhận, cha Đa Minh đã sử dụng cuốn "Đối chiếu các giáo phụ", bàn về các nết xấu và cuộc đời hoàn thiện. Nhờ đó cha khám phá ra những đường lối muôn nẻo dẫn tới ơn đứu độ. Cha hết mình sống theo đường lối đó.
"Nhờ ơn sủng hỗ trợ, cuốn sách đã giúp cha đạt được một lương tâm tinh tuyền, chiêm ngưỡng được nhiều ánh sáng và lên đến đỉnh hoàn thiện"
Thế nhưng điều cần nhấn mạnh hơn cả trong giai đoạn này là lối cầu nguyện của cha Đa Minh. Đó là biểu hiện của lòng khát vọng liên kết mật thiết với Đức Kitô, cảm thông những khốn khổ của nhân trần và hiến toàn thân cho họ được ơn cứu độ.
Là người từng chung sống, chứng kiến và nghe cha Đa Minh cầu nguyện, chân phước Jordano ghi rằng :"Cha thường cầu nguyện suốt đêm, Chúa đã ban cho cha ơn đặc biệt cầu nguyện cho các tội nhân, cho người nghèo và người sầu khổ. Cha cảm thông với những sầu khổ của họ tận đáy lòng, và biểu hiện ra bên ngoài bằng những dòng nước mắt. Có khi giữa đêm thanh vắng. Ngài lớn tiếng kêu nài : "Chúa ơi ! Rồi đây các tội nhân sẽ ra sao? "
Đó là sự đồng cảm với Đức Kitô, yêu nhân gian bằng những rung cảm, thao thức của chính Chúa thuở xưa. Tình yêu đó thúc đẩy cha, trong giờ cầu nguyện, thân thưa với Chúa về những người đã gặp, học với Chúa để biết xót thương và cảm thông với những người sẽ gặp :
"Lúc nào cha cũng cầu xin cho được lòng bác ái đích thực để mưu tìm và chăm lo phần rỗi cho mọi người cách hữu hiệu. Cha nghĩ rằng chỉ khi nào mình noi gương Chúa Cứu Thế, hiến toàn thân toàn sức cứu rỗi các linh hồn thì mới thực sự trở thành chi thể của Chúa"
Cha không hề nghi ngờ Thiên Chúa Đấng hằng xót thương. Cha chỉ xin Chúa mở rộng cõi lòng mình để biết yêu thương và cảm thông. Và trong giờ kinh nguyện nồng cháy đó, cha muốn đưa hết thảy lương dân, người Do thái, người Hồi giáo hay anh em Ly giáo... nghĩa là tất cả, đến với Chúa Cứu Thế.
Lời cầu nguyện đó biểu lộ lòng cha yêu thương các tội nhân. Cha lấy tấm lòng của Thiên Chúa để ôm ấp họ. Cha không chuyển cầu cho bằng "kết hợp" ngày càng sâu xa hơn với Đức Giêsu, là Đấng trên Thánh Giá đã dạy cho loài người nghệ thuật yêu thương.
Và như thế đó, hết đêm này tới đêm khác, cha Đa Minh học với Chúa nghệ thuật giảng thuyết. Tuy nhiên, cha không vội vã lên đường thi hành sứ vụ ngay. Có lẽ cha cũng chưa nghĩ tới điều đó. Suốt đời, cha không bao giờ đốt giai đoạn, cha biết chờ đợi đúng lúc.
Năm 1203, lần đầu tiên cha Đa Minh có cảm hứng lập Dòng, nhưng mọi chuyện đã xảy ra như bất ngờ. Giám mục Diego chọn cha Đa Minh tháp tùng đi Đan Mạch cầu hôn cho hoàng tử, con vua Alphonso VIII, miền Castille. Khi đi ngang miền nam nước Pháp, cha Đa Minh chứng kiến cảnh đau lòng. Người ta thiếu tin tưởng vào giới chức trong Giáo Hội. Ngày càng đông các thiện nam tín nữ rời bỏ Giáo Hội đi theo các nhóm Cathares, theo chủ thuyết nhị nguyên, vừa sống thanh thoát, vừa hoạt động hăng say.
Ngay đêm đầu tiên ngủ tại quán trọ, cha gặp người chủ quán đã gia nhập nhóm Cathares. Thế là lửa nhiệt tâm với các linh hồn đã đượm nóng suốt bao năm chiêm niệm tại Osma, bỗng bừng cháy lên. Cha Đa Minh thức trắng đêm, thân ái nhưng thẳng thắn, trao đổi và thuyết phục người chủ quán trở về chính lộ. Chính đêm nay cha mường tượng thấy một điều : Muốn cảm hóa được lạc giáo, cần phải có những người nhiệt tình, hiểu và sống Tin Mừng, sẵn sàng ra đi, đối thoại và thuyết phục họ.
Lửa nhiệt tình truyền giáo đã bùng lên trong cha Đa Minh đêm đó sẽ không bao giờ tắt nữa. Trong chuyến đi lần thứ hai (1205) để đón công chúa Đan Mạch, khi nghe tin công Chúa thất lộc (Nhiều người cho rằng công chúa vào tu trong đan viện), Giám mục Diego và cha Đa Minh hành hương Roma, xin đức thánh cha cho phép đi giảng cho người Cumans, Hồi Giáo. Trong ước muốn đảm nhận sứ vụ của Giáo Hội, hai vị đã tình nguyện đến những biên cương khó khăn nhất. Thế nhưng, tuân theo sự phân công của Giáo Hội, hai vị đã hy sinh ý định lớn lao, sẵn sàng phục vụ tại miền Nam nước Pháp.
Trở về Montpellier, một lần nữa hai vị được chứng kiến sự thành công của nhóm Cathares. Các đặc sứ Tòa Thánh, các đan sĩ hoạt động tại đây, hầu như đã thất vọng hoàn toàn. Hai vị liền để tâm nghiên cứu tình hình và nhận ra lý do thất bại. Các đặc sứ thì uy nghi lộng lẫy với đoàn tùy tùng đông đảo, còn phái Cathares thành công nhờ nếp sống nghèo khổ hạnh.
Nguồn gốc sâu xa của các nhóm lạc giáo khởi từ công cuộc canh tân đã khởi sự được hơn một thế kỷ. Giáo Hội đang sống trong thời đại canh tân, thường được gọi là cuộc canh tân Grêgoriô VII, vị giáo hoàng đã đẩy mạnh cuộc cải tổ này. Phong trào đã tìm thấy nguồn sinh lực gợi hứng từ Kinh Thánh và thời đại các Tông đồ để đáp lại những thách đố và lạm dụng như người ta thấy ngay trong nội bộ giáo sĩ : sự dốt nát, ù lì và thiếu khả năng để rao giảng.
Tìm cách thoát ra những tệ lạm này, một đàng nhờ các giáo sĩ nhiệt tình, đàng khác nhờ chính những giáo dân nỗ lực trở lại với đời sống đơn giản và nghèo khó của giáo hội tiên khởi. Họ lấy việc sống như các Tông đồ làm lý tưởng. Những vị giáo sĩ muốn canh tân này đã đề ra hình thức cụ thể để thực hiện lý tưởng của mình bằng lối sống tu trì tại các kinh sĩ đoàn. họ nỗ lực đưa đời sống cầu nguyện và sứ vụ tông đồ vào lòng các đan viện. Số các Kinh Sĩ đoàn ngày càng gia tăng đã phát sinh nhiều cộng đoàn nổi tiếng như Prémontrée, Saint-Victor và tại Anh là nhóm Gilbertin.
Những tín hữu muốn tham gia cuộc cải tổ liên đới lại thành các huynh đệ đoàn sám hối, họ nhấn mạnh đời sống nghèo, hãm mình nghiêm ngặt và rao giảng. Vì quá nhiệt tâm, nhiều người trong họ đã đi đến sai lầm, họ đánh giá việc khó nghèo như các Tông đồ là điều kiện tiên quyết và tối cần để giảng thuyết và trao ban các bí tích thành sự. Nhưng dầu sao, nếp sống nghèo của họ hấp dẫn hơn với quần chúng.
Nhờ kinh nghiệm đã từng theo nếp sống giáo hội sơ khai tại kinh sĩ đoàn Osma, đức cha Diego và cha Đa Minh hăng hái cổ cõ các viện phụ rũ bỏ các hành lý cổng kềnh, để ra đi với đôi bàn tay trắng của Đức Kitô. Cần phải trở thành người loan báo tin vui chứ đừng làm kẻ chinh phục. Vị giám mục nói : "Xin quý ngài cho đoàn tùy tùng trở về, hãy đi từng hai người một theo gương các Tông đồ, Chúa sẽ chúc phúc cho những nỗ lực của quý ngài".
Hiến kế xong, hai vị làm ngay điều mình nói và các viện phụ đều theo ... "Mọi người nhận vị Giám mục làm người chỉ huy toàn chiến dịch. Tất cả bắt tay vào việc truyền bá đức tin, tự nguyện sống nghèo, đi chân đất và không mang tiền bạc... Các ngài chỉ giữ lại sách và một số vật dụng tối cần thiết"
Cha Đa Minh không quản ngại khó khăn vất vả. Mấy tháng liền Cha dành trọn ban ngày cho tha nhân và thức trắng đêm thờ phượng Chúa. Đặc biệt trong mỗi lần tranh luận, cha mời đối phương cử trọng tài. Sự tín nhiệm đó đã đem lại hiệu quả bất ngờ. Một lần kia, Chúa tỏ dấu xác nhận lời cha. "Ở Montréal, người Cathares không đốt nổi cuốn sách do cha viết". Đã đến lúc những hoạt động hăng say, lời giảng trìu mến kèm với dấu lạ cuốn sách không bị cháy, trỗ sinh hoa trái đầu mùa : một vài phụ nữ bỏ phái Cathares đến xin cha hướng dẫn.
Cảm hứng theo tổ chức của lạc giáo, vốn có các "tín nữ" yểm trợ đắc lực cho những nhà du thuyết, cha Đa Minh đã bố trí họ trong cộng đoàn Prouille, miền Fanjeaux nước Pháp, ngay trên địa bàn của lạc giáo. Tu viện Prouille trở thành cơ sở đầu tiên của nữ đan viện Đa Minh (1206). Dưới mái trường êm ấm đó, các chị học theo Chúa Cứu Thế hiền từ và khiêm nhượng trong lòng, luyện tập mở rộng tâm hồn, mong ước cho mọi người được ơn cứu độ ... Và dĩ nhiên, trước tiên cho những thân hữu lạc giáo sống quanh mình.
Năm 1207, Đức cha Diego phải trở về Osma để thu xếp công việc địa phận và qua đời tại đó. Chỉ còn cha Đa Minh với cái tên thân ái "Anh Đa Minh" vẫn tiếp tục rao giảng không mỏi mệt. Theo lời cha Jordano : "thỉnh thoảng có vài anh em đến chung sống với cha, nhưng chưa có ai khấn vâng lời".

Năm 1208, do thái độ cứng rắn, đặc sứ Pierre Castelnau bị sát hại. Đức Innocentê III mất kiên nhẫn, tuyên bố thánh chiến với Albigeois. Nhưng cha Đa Minh không tham gia cuộc chiến này. Ba tài liệu viết tay của ngài còn được lưu giữ, gồm một thư gửi các nữ đan sĩ và hai chứng từ cấp cho người Cathares trở lại. Con đường ngài chọn vẫn là cầu nguyện và rao giảng. Ngài nói : "chống kiêu ngạo bằng khiêm tốn, chúng ta hãy đi chân không đến gặp Goliát". Cha không tin vào vũ khí bạo lực mà tin vào những hòn sỏi nhỏ bé cộng với sự phù trì của Thiên Chúa.
Lần kia, khi khuyên một người lạc giáo trở về, cha nhận được câu trả lời bất ngờ : "Tôi không thể rời xa họ, vì tôi ăn nhờ ở trọ trong nhà họ". Cha Đa Minh vừa lúng túng vừa đau lòng vì không có gì để trợ cấp cho anh ta. Cuối cùng cha tìm ra giải pháp : tự bán thân mình để lấy tiền cứu anh khỏi hố thẳm tội lỗi.
Như vậy, cha Đa Minh muốn theo sát Đức Kitô, vì "không có gì cao quý bằng kẻ hiến mạng sống mình cho người mình yêu". Nhiều lần cha ước mơ làm nạn nhân của những tấn tuồng tử đạo khủng khiếp. Khi đối phương hỏi ngài có sợ bị bắt không ? Ngài trả lời : "Nếu bắt được tôi, xin các anh đừng giết tôi ngay, hãy băm xác tôi ra thành trăm mảnh, xẻo tai cắt mũi, rồi để tôi nửa sống nửa chết hay muốn kết liễu thì tùy ý anh". Lần khác cha vui vẻ theo nhóm lạc giáo vào rừng gai, nhìn chân xước, máu chảy ngài nói "sám hối phải thế đó". Rồi cười thoải mái trước sự ngạc nhiên của họ.
Cha Đa Minh thường chọn đi giảng ở Carcassone, vì ngài nói : "Ở Toulouse này tôi gặp nhiều người ca tụng, còn ở Carcas-sonne, mọi người chống lại tôi". Quả thế, tại vùng đó, đối phương sỉ nhục ngài đủ cách. Họ nhỗ nước miếng, ném bùn, nhét rơm vào áo rồi chế diễu. Như các tông đồ xưa, ngài sung sướng được chịu sỉ nhục vì Danh Chúa Kitô, kiên cường không lùi bước trước trở ngại đe dọa. Ngài bình thản tiếp tục hành trình, vui vẻ ca hát.
Viện phụ Guillaume de Pierre, một nhân chứng đương thời cho ta biết : "Đa Minh khát khao mãnh liệt ơn cứu rỗi các linh hồn ... Ngài hăng say rao giảng ngày đêm, trong nhà thờ, nơi nhà riêng, giữa cánh đồng và ngay trên đường đi. Ngài không ngừng công bố Lời Chúa, cổ võ anh em cũng làm như vậy, bao giờ cũng chỉ nói về Chúa. Ngài từ chối chức giám mục Conséran... Ngài âu yếm an ủi anh em bệnh tật, kiên nhẫn khích lệ những người nản chí. Ngài quảng đại tặng người nghèo mọi thứ mình có. Ngài không có giường nào ngoài nhà thờ, nếu không có nhà thờ, ngài ngủ ghế, ngủ đất, hoặc tháo nệm gia chủ trải để nằm trên trỉ giường. Bao giờ tôi cũng thấy ngài mặc áo chùng, vá trên vá dưới. Ngài luôn luôn mặc áo xấu nhất trong anh em. Ngài cổ võ người này kẻ khác sống đức tin và bình an".
Có lẽ từ năm 1213, cha Đa Minh phổ biến Kinh Mân Côi, khi đó còn dưới dạng thức đơn giản "Kính Mừng Bà đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc hơn mọi người nữ". Nhóm Cathares vốn coi vật chất là điều xấu, họ không tin Chúa Giêsu nhập thể trong xác phàm và như thế họ cũng chối nhân tính đức Giêsu trên Thánh Giá. Lời kinh Mân Côi đơn sơ nhắc nhớ đến mầu nhiệm nhập thể và cứu độ, có sức tác động giúp suy niệm về cuộc sống, cuộc khổ nạn và vinh quang của Đức Giêsu, đưa nhiều người rời bỏ lạc giáo
 
Ghi chú : Theo những sử liệu chính xác, Pierre Alain de la Roche OP (1428-75) ở Bretagne là người ổn định chuỗi 150 với ba mùa Vui, Thương, Mừng như hiện nay. Kinh "Thánh Maria" cũng chuyển biến từ thế kỷ XIII và có dạng hiện nay do đức Pio V ấn định năm 1508. Kinh "Sáng Danh" cuối mỗi chục kinh, xuất hiện ở nhà thờ Đaminh Sopra Minerva tại Roma năm 1613. Thánh danh Giêsu và Maria được đức Urbano IV (1261-64) thêm vào.

Lm. Phanxicô X. Đào Trung Hiệu, OP

 

Thứ Hai, ngày 06 tháng 8 năm 2012

Thuý Kiều phải sống nhé em !


Tiền Đường ô nhiễm chẳng thèm quyên sinh.
Hơi đâu tự tử vì tình.
Chàng Kim thì ít, Giám Sinh thì nhiều.


Trong kỳ kiểm tra kiến thức văn học cuối năm ở một trường phổ thông, đề bài là: "Bằng kiến thức đã học và kinh nghiệm thực tế, em hãy phân tích hình tượng nhân vật Thúy Kiều và liên hệ với hoàn cảnh hiện đại".

Dưới đây là một trong những bài mà cô chủ nhiệm nhận được:

"Nguyễn Du là một đại văn hào của đất nước, và tác phẩm Kiều là một kiệt tác bất hủ của văn học Việt Nam đã liên tục nhiều thế kỷ lọt vào top ten những tiểu thuyết được yêu thích nhất trong tuần của MTV. Chỉ tính riêng trong tháng mười một, nhân vật Kiều cũng như Sở Khanh đã được lên trang bìa và trang giữa của nhiều báo với số lượng hơn hẳn các diễn viên Hàn Quốc trong phim Anh em nhà bác sỹ. Hằng ngày hiện nay Kim Trong, Mã Giám Sinh, Từ Hải và Thúy Vân... đều dành hết thời gian trả lời thư ái mộ của bạn đọc mà cũng không đủ. Riêng các áo in hình Vương ông và Hoạn thư trong kịp Noel vừa qua đã bán được với số lượng kỷ lục với giá 15.000 đồng, có khuyến mãi cho người mua số lượng lớn.

Bản thân em rất quý mến Kiều vì cô ấy dễ thương, sinh ra trong một gia đình hoàn cảnh khó khăn, cuộc sống gặp nhiều éo le, trắc trở, nhưng Kiều vẫn phấn đấu vươn lên. Chỉ tiếc khi Kiều bán mình chuộc cha không chịu coi kỹ giá cả, đúng vào lúc thị trường nhiều biến động nên bị lừa đảo, tư thương ép giá quá trời.

Riêng về vấn đề Kiều nhảy xuống sống tìm đường tự vẫn thì đó là một hành động nông nổi, thiếu suy nghĩ và cũng chứng tỏ thời kỳ này còn lạc hậu về kỹ thuật, không có nhiều phương án để chọn như chọn số điện thoại di động trong đợt giảm giá vừa qua. Với kinh nghiệm thực tế của em, vào lúc này nếu có xảy ra chuyện gì thì Kiều vẫn phải sống bởi các lý do chủ quan và khách quan như sau:

1- Nhảy xuống sông thì hiện nay nước ngập, lòng đường hoặc vỉa hè sau cơn mưa cũng có thể thành sông, nhưng độ sâu rất thất thường, Kiều mà không biết chỗ (mà làm gì có ai biết) nhày bừa vào chỗ cạn thì có thể sứt trán hoặc trầy đầu gối chứ chết đuối là rất khó khăn.

2- Tất nhiên là Kiều có thể nhảy lầu. Nhưng hiện nay dưới các lầu đều có dây điện thoại hoặc dây phơi quần áo chằng chịt. Kiều gieo mình xuống mắc vào những sợi dây này sẽ bị phơi nắng, dẫn tới việc phải mua kem dưỡng da chứ không thể chết được. Đã có trường hợp nhảy lầu mười ngày sau mới tới đất.

3- Sau đó Kiều có thể chọn cách lao vào ô tô đang chạy. Cách này có lợi là có thể bẹp dí như bánh tráng trong thời hạn rất nhanh, không sợ bị cứu chữa ngoài ý muốn, và hình như Kiều đã áp dụng thí điểm ở 1 số ngã tư. Nhưng ôi chao, Kiều cứ thử chỗ nào thì chỗ ấy lại kẹt xe cả ngày trời.

4- Có cách tự vẫn hiện đại nhất là cho điện giật, nhưng Kiều bị lừa đảo đúng vào mùa khô, mực nước các hồ đều cạn kiệt ngoài dự đoán của Sở Điện lực nên Kiều cứ dùng dây điện châm vào người mấy lần mà điện vẫn bị cúp hoặc tệ hơn nữa, điện yếu khiến Kiều bị giật tê tê chứ toàn thân vẫn nguyên vẹn "rõ ràng trong ngọc trắng ngà".

5- Cuối cùng, Kiều sẽ áp dụng phương pháp phổ biến và rẻ tiền nhất là uống thuốc trừ sâu. Nhưng số Kiều quả là lận đận, nàng đã cẩn thận uống đến mười chai mà vẫn phây phây tăng trọng. Về sau mới biết đó là loại thuốc trừ sâu dởm pha bằng nước đường.

Kết luận là trong bất kỳ hoàn cảnh nào em thấy Kiều cũng cần phải sống. Sống để nhìn thẳng vào sự thật, để lạc quan yêu đời và để xem cho hết các bộ phim nhiều tập rất hay đang được chiếu trên tivi. Kiều cũng cần bắt chước Củng Lợi, phải sống, phải sống và phải sống!"

Thứ Bảy, ngày 04 tháng 8 năm 2012

Linh Mục Đồng Tế Có Nên Chụp Hình Hay Không ?

Linh Mục Đồng Tế Có Nên Chụp Hình Hay Không?

Từ khoảng mươi năm trở lại đây, máy ảnh kĩ thuật số trở nên rất phổ biến và ở trong tầm tay của khá nhiều người. Việc lưu giữ hình ảnh của những khoảnh khắc đặc biệt trong cuộc đời vì vậy cũng thành ra dễ dàng hơn rất nhiều. Đây dĩ nhiên là một điều tốt. Tuy nhiên, cũng như mọi thứ của cuộc sống muôn mặt, việc chụp ảnh cũng có những hệ lụy mà những người sử dụng cần phải lưu ý. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đề cập đến một vài điểm liên quan tới chuyện các linh mục đồng tế chụp ảnh trong thánh lễ.

Vài điều mắt thấy tai nghe

Có lần, khi tới hiệp dâng thánh lễ đồng tế tại một nữ đan viện Biển Đức, chúng tôi được Bà Bề Trên nhắc trước: Hiện có cha Benoît là một nghệ sĩ nhiếp ảnh đang nghỉ tại nhà dòng chúng con, vậy trong thánh lễ, xin các cha chớ ngạc nhiên khi thấy ngài đi đi lại lại chụp hình. Mặc dù đã được nhắc trước như thế, nhưng khi trở lại phòng thánh, vị linh mục chủ tế đã nói ngay một cách không hài lòng: Trop c’est trop! (xin tạm dịch: Thái quá vẫn là thái quá). Tôi cũng rất đồng ý với vị linh mục chủ tế, vì trong thánh lễ, cha Benoît mặc alba và đeo dây stola, đi đi lại lại chụp hình trong cung thánh như chỗ không người! Dường như ngài nhập vai nghệ sĩ nhiếp ảnh “đạt” tới mức ngài quên hẳn mình là một linh mục đồng tế.

Một dịp khác, khi hiệp dâng thánh cùng khá nhiều linh mục tại một cuộc họp mặt, tôi nghe một vị đức cao vọng trọng nhắc nhở các linh mục đồng tế rằng: Thưa các cha, việc chúng ta cử hành thánh lễ nhân danh Chúa Kitô là việc rất cao trọng, tôi tha thiết xin các cha đừng bỏ việc cao trọng đó để tranh công việc của các phóng viên! Một lần kia, tôi nghe một linh mục nhắc một linh mục khác: Hoặc cha là linh mục đồng tế, hoặc cha là phóng viên, cha chỉ nên chọn một thứ, cha đừng diễn một lúc cả hai vai!

Ai đã từng tham dự các cuộc cử hành tại Roma, nếu lưu ý, hẳn đều thấy rằng trước thánh lễ bao giờ cũng có lời nhắc các linh mục đồng tế không nên quay phim, chụp hình. Một lần, khi tham dự thánh lễ truyền chức linh mục do Đức Bênêđíctô XVI cử hành, chúng tôi thấy Đức ông trưởng nghi đã rời bàn thờ, đi xuống phía hàng ghế dành cho các linh mục đồng tế, để nhắc nhở một vị linh mục không chụp hình khi đồng tế.

Lỗi vị trí

Những điều chúng tôi vừa nêu ra ở phần trên cho thấy phần nào vấn đề cần đặt ra ở đây.

Trong cuốn Miền thơ ấu, ở chương 10, nhà văn Vũ Thư Hiên có lí giải tại sao ở tuổi ấu thơ ông thích đi dự lễ: “Tôi mê tính chất sân khấu của đạo Thiên Chúa đến mức lập tức biến nó thành trò chơi.” Câu nhận xét này dễ bị người hiểu giáo lí cho là một nhận xét hời hợt, vì chỉ nhận ra được sức hấp dẫn bề ngoài của các cuộc cử hành phụng vụ. Tiếc thay, cung cách cử hành, đặc biệt việc các linh mục chụp hình khi đồng tế, dường như lại phản ảnh cách hiểu nông cạn này.

Xét dưới khía cạnh sân khấu, vị linh mục đồng tế ở trong tình trạng “chân không tới đất, cật không tới giời”, không thuần túy là diễn viên mà cũng chẳng hoàn toàn là khán giả. Tình trạng nửa vời này có lẽ khiến các ngài cảm thấy rỗi rãi, nên việc các ngài tham gia vào việc chụp hình có lẽ là việc trám chỗ trống: không làm diễn viên chính thì đành làm phóng viên vậy.

Tuy nhiên, xét ở góc cạnh khác, chuyện này có thể phản ảnh một vấn đề trầm trọng hơn, vì nó cho thấy rằng vị linh mục đồng tế dường như thiếu hiểu biết và thiếu ý thức về việc mình làm, do vậy rơi vào một kiểu khủng hoảng căn tính, crise d’identité. Hiến chế Giáo Hội, số 11, khẳng định rằng thánh lễ là nguồn mạch và đỉnh cao của toàn bộ đời sống Kitô giáo. Trong cuộc cử hành thánh lễ, linh mục chủ tế cũng như đồng tế cử hành nhân danh Chúa Kitô, là hiện thân của Chúa Kitô, in persona Christi. Việc các linh mục đồng tế quay phim chụp hình không chỉ sân khấu hóa thánh lễ, mà còn cho thấy dường như các vị thiếu hiểu biết về vị trí của mình, thiếu ý thức về tính cách thánh thiêng của buổi cử hành Thánh Thể. Các vị đã tầm thường hóa một việc mà Hội Thánh xem là nguồn mạch và đỉnh cao trong đời sống của mình.

Đôi điều cân nhắc

Chúng tôi nghĩ rằng nhiều vị linh mục sẽ phản bác lại ý kiến của chúng tôi với vô vàn lí do: có những thời khắc quí giá trong cuộc đời trôi qua và không bao giờ trở lại, việc ghi lại hình ảnh của các thời khắc đó là cần thiết; linh mục ngày nay cần thích ứng với thời cuộc, với các phương tiện hiện đại và không nên suốt ngày cứ chăm chú cầu nguyện, xỏ tay lỗ mũi; không cần thiết phải nâng cao quan điểm, trầm trọng hóa vấn đề v.v…

Chúng tôi cho rằng các vị linh mục nên nhường việc ghi lại hình ảnh của những thời điểm đáng nhớ cho những người khác. Dù các vị có là những phóng viên báo chí thực thụ đi nữa, các vị cũng không nên tranh giành công việc chụp hình của người khác, khi các vị đã có phận vụ rõ ràng ở nơi trung tâm của cuộc cử hành phụng vụ. Việc thích ứng với thời cuộc không có nghĩa là các vị linh mục có thể sử dụng các phương tiện hiện đại mọi nơi mọi lúc, có những ranh giới trong cuộc sống đôi khi không nên, thậm chí không được phép bước qua.

Ngoài ra, khi ở vào khu vực trung tâm của cuộc cử hành phụng vụ, việc chụp hình của các linh mục đồng tế vừa gây chia trí cho cộng đoàn tham dự, vừa làm mất đi phần nào sự trang trọng cũng như vẻ đẹp của phụng vụ. Chúng tôi cho rằng mất mát lớn nhất của việc này là thay vì hiệp thông và tham dự trọn vẹn vào mầu nhiệm thánh, các vị “phóng viên đồng tế” lại gây khó chịu và góp phần làm mất đi sự thánh thiêng của cuộc cử hành.

Ở đây, chúng tôi không dám đưa ra một câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi đặt ra ở tiêu đề bài viết. Tuy nhiên, xét tới những thiệt hại có thể thấy được của các phóng viên đồng tế, chúng tôi mạnh dạn cho rằng các vị linh mục đồng tế không nên quay phim chụp hình. Đó có lẽ là một ranh giới mà các vị không nên bước qua.

KIM ÂN
Nguồn : vietcatholic

Thứ Hai, ngày 09 tháng 4 năm 2012


Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Xứ Thạch Bích

 


Click vào hình để xem lớn hơn

 

Sơ Đồ Vào Đền Đức Mẹ




Thứ Bảy, ngày 03 tháng 3 năm 2012

Chúa Nhật 5 Mùa Chay - Năm B


ÁNH SÁNG CUỐI ÐƯỜNG HẦM Mc 9, 2-10

Với tốc độ 300.000 cây số một giây, ánh sáng có thể bay nhanh tới những miền xa thẳm trong chớp mắt. Không vật nào có thể di chuyển nhanh như thế. Nhờ ánh sáng Chúa biến hình hôm nay, ba môn đệ cũng phóng tầm nhìn rất xa, xa tới tận bản tính Thiên Chúa. Chính vì thế, các ông đã xác định được hướng sống và tìm được nền tảng của niềm hi vọng cho cuộc đời. Trong ánh sáng thần kỳ, Ðức Giêsu đã mạc khải tất cả sự thật về Người. Sứ mệnh Người hiện rõ từng nét. Chúng ta tìm về ánh sáng đó để cùng các môn đệ ngất ngây chiêm ngưỡng dung nhan tuyệt vời của Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Ðấng cứu độ muôn dân.
ÁNH SÁNG THẦN KỲ
Nếu không được chứng kiến ánh sáng thần kỳ trên núi, các môn đệ mãi mãi sống trong giằng co bất tận giữa thực tế và mộng tưởng. Giấc mơ Thiên sai vẫn đẹp như ngày nào. Thiên sai phải là một anh hùng cái thế thực hiện tất cả những giấc mộng bá chủ của dân tộc Do thái. Thực tế Thày lại tiên báo về một Thiên sai đau khổ và bị những nhà lãnh đạo dân chúng tiêu diệt khỏi mặt đất (Mt 16:21; Lc 9:22; Mc 8:31). Lời Thày như dẫn các môn đệ vào con đường hầm dầy đặc bóng tối.
Nhưng đã đến lúc ánh sáng lóe lên ở cuối đường hầm. Ðức Giêsu muốn lôi các môn đệ ra khỏi cảnh hoang mang đó. Người phải củng cố niềm tin các môn đệ. Nếu không, các ông sẽ mất hẳn chiếc phao và sẽ trôi dạt đến một chân trời vô định. Cả sự nghiệp Thày trò sẽ tan tành ra mây khói. Bởi vậy Thày quyết định dẫn ba môn đệ thân tín nhất lên núi để tìm một điểm mốc cho tương lai.
Núi là nơi lý tưởng để Thày trò cầu nguyện. Nhưng lần này khác hẳn. "Núi là nơi thường chứng kiến những mạc khải siêu nhiên và những cuộc thần hiển" (The New Jerome Biblical Commentary 1990:615). Sau khi đã leo tới đỉnh núi, "Người biến đổi hình dạng trươc mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy." (Mc 9:3) Ðức Giêsu đã xuất hiện nguyên hình. Thân xác không cản nổi luồng sáng từ thiên tính Người. Niềm tin các môn đệ bừng dậy. Có lẽ trong niềm tin Phật tử, Ðức Phật cũng tỏa ra một thứ hào quang tương tự khi chứng ngộ, thành đạo dưới gốc cây bồ đề ( ?). Bởi vậy nói theo kinh nhà Phật, trong cuộc biến hình hôm nay, Ðức Giêsu cũng đã thành con đường dẫn các môn đệ thoát khỏi bến mê và trở về nhà Cha an toàn.
Trong ánh sáng biến hình, các môn đệ sẽ hiểu được lời Ðức Giêsu hứa về "Triều Ðại Thiên Chúa đầy uy lực" (Mc 9:1) và xác tín "Thày là Ðức Kitô" (Mc 8:30). Nói cách khác, Thày tự mạc khải là Ðấng quyền năng có sứ mạng cứu nhân độ thế. Trong địa vị và vai trò lớn lao đó, Thày xứng đáng là vị lãnh đạo muôn dân vào Ðất Hứa. Thày xuất hiện để lời các tiên tri trở thành hiện thực. Chính vì thế hai ông Môsê và Êlia đã xuất hiện để củng cố và chiếu sáng niềm tin các môn đệ vào sứ mạng của Thày. Ðúng hơn, hai ông là cái nền đánh bóng dung nhan Ðức Giêsu.
CHÂN TƯỚNG VỊ THIÊN SAI
Nhưng trên hết, chính lúc các ông ngây ngất về dung nhan Thày trổi vượt hơn các ông Môsê và Êlia, thì "có một đám mây bao phủ các ông" (Mc 9:7). Mây là biểu tượng Thiên Chúa hiện diện. Phải được nhắc lên đám mây, các ông mới nghe được tiếng Chúa Cha : "Ðây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người" (Mc 9:7). Lời trìu mến chừng nào ! Tất cả cơ nghiệp Chúa Cha là Ðức Giêsu ! Nhưng cơ nghiệp ấy Chúa Cha đã không ngần ngại hi sinh cho hạnh phúc nhân loại. Hình ảnh Abraham sẵn sàng sát tế Isaac chỉ diễn tả phần nào tấm lòng hi sinh cao cả của Thiên Chúa đối với con người. Abraham chỉ bị thử thách, chứ không sát tế người con yêu quí. Trái lại, "đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta" (Rm 8:32). Thiên Chúa Cha quí trọng mạng sống Con Cha tới mức nào. Vậy mà Người đã hi sinh mạng sống ấy cho chúng ta (Disciples in Mission [Homily Guide, Lent Cycle B] 1999:10). "Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em" (1 Cr 6:20).
"Tiếng trong đám mây làm liên tưởng tới vị tiên tri trong Ðệ Nhị Luật (18:15) sẽ được lắng nghe vào những ngày sau hết" (Faley 1994:231). Ðám mây và Lời Chúa Cha chứng minh rõ ràng tự bản tính Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa. Còn ai xứng đáng cho các môn đệ nghe lời hơn không ? Vậy mà từ xưa tới nay, các ông vẫn hoang mang vì dư luận ! Bởi vậy từ nay, dù Thày có nói những điều trái tai gai mắt, các môn đệ cũng phải chấp nhận. Sự thật vẫn là sự thật. Thày không sợ sự thật. Thày muốn môn đệ cũng phải đối diện với sự thật. Vì "sự thật sẽ giải phóng các ông" (Ga 8:32).
Thấy cảnh Ðức Giêsu biến hình, Phêrô cảm thấy lúng túng. "Ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng" (Mc 9:6). Một kinh nghiệm khó quên. Một cảm nghiệm thần bí tuyệt vời. Tuyệt vời đến nỗi ông muốn kéo dài mãi cảnh thần tiên đó. Ðề nghị dựng ba lều chỉ là một cách nói lên điều ông không biết diễn tả làm sao nỗi vui sướng ngây ngất. Nhưng Ðức Giêsu không muốn các môn đệ "ngủ quên trên chiến thắng". Ngay trên núi, sau khi chứng kiến cảnh Thày biến hình, các ông đã bị trả về thực tế. "Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Ðức Giêsu với các ông mà thôi" (Mc 9:8). Thực tế trơ ra đó. Nhưng thực tế không phải chỉ có thế. Các ông lại phải tiếp tục nghe những điều nhức nhối tâm can phát ra từ miệng Thày. Thày trò rủ nhau xuống núi. Thày tiếp tục quả quyết về số phận không thể tránh : "Người phải chịu nhiều đau khổ và bị khinh chê." (Mc 9:12)
Lúc này có lẽ các ông đã sẵn sàng nghe Ðức Giêsu hơn, vì ai có thể tẩy mờ hình ảnh Thày biến hình khỏi tâm trí các ông ? Làm sao các ông quên được lời phán từ đám mây : "Hãy vâng nghe lời Người". Nghe lời Người để tìm đến sự sống, chứ không phải cái chết. Ðúng hơn, niềm hi vọng sẽ bừng dậy khi "Con Người từ cõi chết sống lại." (Mc 9:9) Ðó mới là điều ám ảnh tâm trí các ông suốt đời. Ðức Giêsu Phục sinh sẽ là câu trả lời đích xác, dẹp yên mọi xôn xao trong lòng các ông từ trước tới nay. Từ đây giấc mộng Thiên sai bá chủ sẽ nhường bước cho niềm hi vọng Phục sinh lớn lao đó. Ánh sáng biến hình chỉ là bóng mờ so với ánh sáng Phục sinh.
Nhưng không chứng kiến hay cảm nghiệm được ánh sáng biến hình, người ta có thể ngộ nhận về sứ mệnh thiên sai của Ðức Giêsu. Ðó là lý do tại sao "Ðức Giêsu truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trừ khi Con Người từ cõi chết sống lại." (Mc 9:9) Trong ánh sáng Phục sinh, các môn đệ mới nhận thấy rõ ràng "nơi Ðức Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa đã can thiệp để cứu độ dân Người." (Fisichella 1995:669) Người chính là vị Thiên sai đến thực hiện tất cả những lời Thiên Chúa hứa giải thoát nhân loại.
Ngày nay, nhiều nơi trên thế giới, nhân loại vẫn còn sống trong những đường hầm chật chội, tăm tối. Sự dữ và bất công còn hiện diện khắp nơi. Chính vì thế người Kitô hữu vẫn chưa thể nghỉ yên. "Sứ mệnh Thiên sai vẫn còn đó như mời gọi dân thiên sai thực hiện cuộc giải thoát toàn vẹn và sau cùng. Biến cố huyền nhiệm Phục sinh chắc chắn đã mang lại ơn cứu độ. Biến cố đó không chuẩn chước, nhưng đúng hơn thúc ép chúng ta phải trở nên khí cụ thực hiện công bình và từ bi ở bất cứ nơi đâu sự dữ còn hoành hành"(Fisichella 1995:669). Nhờ đó, hòa bình sẽ là dấu chỉ rõ nhất của Thiên Chúa tình yêu giữa một xã hội đầy bạo động và sa đọa này.
Hi vọng không phải lóe lên ở cuối đường hầm, nhưng chiếu toả mãnh liệt trên đỉnh núi. Hôm nay sau khi chiêm ngưỡng dung nhan Ðức Giêsu, các môn đệ đã nhận thấy "sức mạnh duy nhất của Thiên Chúa là sức mạnh tình yêu, tình yêu toàn năng" (TGM Angelo Comastri : Zenit 12/3/2003) làm hoạt động mãnh liệt trong tâm hồn con người và trong toàn thể vũ trụ.
Như Hạ, OP

Lễ Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Ðức Mẹ

Ngày 19 Tháng 3
Lễ Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Ðức Mẹ
Bổn Mạng Người Lao Ðộng Và Các Gia Trưởng
(2Sm 7,4-5.12-14.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24)



Rest on the flight into Egypt
 
- Dẫn vào Thánh Lễ:
Hôm nay chúng ta mừng kính Thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Mẹ, bổn mạng các người lao động và gia trưởng.
Thánh nhân thuộc dòng dõi vua Ðavít, đã đính hôn với Ðức Maria. Nhưng chưa chung sống thì Ðức Maria đã mang thai Con Thiên Chúa, do quyền năng Chúa Thánh Thần. Thánh nhân chưa biết đó là việc Chúa làm nên buồn bả định bỏ trốn đi. Nhưng khi được sứ thần Chúa báo tin, thánh nhân tin tưởng vâng lời Chúa, rước Maria về nhà.
Chúng ta sốt sắng dâng Thánh Lễ. Xin cho chúng ta biết noi gương Thánh Cả, luôn tin tưởng và vâng lời Chúa.
- Dẫn vào Bài Ðọc 1: 2Sm 7,4-5.12-14.16
Thánh Giuse thuộc dòng dõi vua Ðavít, nên Chúa Giêsu cũng thuộc hoàng tộc, được Thiên Chúa chúc phúc và vương quyền Người tồn tại muôn đời. Ðó là ý nghĩa bài đọc sau đây.
- Dẫn vào bài đọc 2: Rm 4,13.16-18.22
Thánh Phaolô khen ngợi đức tin của ông Ápraham, để ca tụng thánh Giuse là gương mẫu tuyệt hảo về niềm tin cho chúng ta. Ðó là nội dung đoạn thơ sau đây.
- Dẫn vào bài Tin Mừng: Mt 1,16.18-21.24
Tin Mừng hôm nay thuật lại thánh Giuse mới đính hôn với Ðức Maria, thì Mẹ đã "mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần" khi biết đó là Con Thiên Chúa và là Ðấng Cứu Thế, thánh nhân đã rước Ðức Maria về nhà như Lời Chúa dạy.
- Cầu nguyện cho mọi người:
Chúa đã dọn thánh Giuse làm bạn Ðức Maria và làm gương cho người lao động và các gia trưởng. Chúng ta quyết noi gương thánh nhân và tha thiết cầu nguyện.
1. Chúa giao cho Hội Thánh sứ mạng dạy dỗ con cái sống công chính thánh thiện như thánh cả Giuse. Xin cho các vị Mục Tử trong Hội Thánh nhiệt tâm chu toàn sứ mạng.
2. Thánh cả Giuse đã làm trọn bổn phận bạn trăm năm của Ðức Maria. Xin cho những người làm vợ làm chồng tận tâm chu toàn bổn phận.
3. Chúa đã chọn thánh Giuse là Ðấng công chính dưỡng dục Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa làm người. Xin cho những người làm cha mẹ trong gia đình biết sống thánh thiện để làm gương cho con cái.
4. Thánh Giuse làm nghề thợ mộc để nuôi Ðức Mẹ và Chúa Giêsu. Xin cho cộng đoàn chúng ta siêng năng làm việc, để tôn vinh Chúa, và sinh sống hằng ngày.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh Giuse làm bạn Ðức Maria và làm gương cho người lao động và các gia trưởng. Xin cho chúng con biết noi gương thánh cả.

Thứ Bảy, ngày 13 tháng 8 năm 2011